TÂM LÝ VÀ SỨC KHỎE TÂM THẦN
CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC VIỆT NAM XÁC ĐỊNH NHU CẦU, MÔ HÌNH CAN THIỆP VÀ GIẢI PHÁP HỖ TRỢ
4.5
1
Lượt xem
0
Đã bán
Chọn sản phẩm
Vĩnh viễn
  • Vĩnh viễn
  • 1 Tháng
  • 3 Tháng
  • 6 Tháng
225.000₫
Thành tiền 225.000₫
Thông tin xuất bản
Năm xuất bản sách giấy:
Năm xuất bản sách điện tử:
2026
Khổ sách:
19x27
Số trang:
378
Quốc gia:
Việt Nam
Ngôn ngữ:
vi
Mã ISBN:
Mã ISBN Điện tử:
978-632-615-307-1.
Loại sách:
Ebook
Nhà xuất bản:
Nhà xuất bản Xây dựng

Xã hội phát triển mạnh mẽ với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao cùng sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học, công nghệ và mạng xã hội đã mang lại rất nhiều lợi ích, nhưng đồng thời cũng tạo ra những hệ quả không tích cực tác động lên cả sức khỏe thể chất và sức khỏe tâm thần (SKTT) của mọi công dân. Trong đó, các vấn đề liên quan đến tâm lý, SKTT đang trở thành một mối quan tâm quan trọng của rất nhiều lĩnh vực, một trong số đó là lĩnh vực giáo dục. Các tài liệu nghiên cứu cũng như báo chí gần đây cho thấy số lượng học sinh, sinh viên chán học, lười học chiếm tỷ lệ không nhỏ. Các em có nhiều lúng túng, khó khăn trong các quan hệ xã hội, trong giao tiếp ứng xử với bạn bè và thầy cô, vướng mắc trong quan hệ với cha mẹ và khó khăn trong việc tìm kiếm nghề nghiệp tương lai (Đại học Quốc gia Hà Nội, 2020). Đặc biệt, việc gia tăng các sự vụ ở các mức độ nghiêm trọng khác nhau từ hệ quả của các vấn đề tâm lý và SKTT của sinh viên (trầm cảm, lo âu, các rối loạn tâm lý từ những áp lực học tập gia đình hay xã hội) ở nhiều trường đại học do không có được những sự nhận biết và trợ giúp tâm lý kịp thời đã dẫn đến nhiều hậu quả đáng tiếc. Theo UNICEF (2020), tỷ lệ mắc các vấn đề SKTT nói chung đối với trẻ em và vị thành niên (10-19 tuổi) tại Việt Nam dao động từ 8-29%. Theo số liệu của một vài nghiên cứu trường hợp điển hình tại Việt Nam gần đây, tỷ lệ trẻ vị thành niên bị trầm cảm là 26,3%, trẻ có suy nghĩ về cái chết là 6,3%, trẻ lập kế hoạch tự tử là 4,6% và trẻ cố gắng tự tử là 5,8%. Thực tế, con số thống kê được về tình trạng tự tử ở thanh thiếu niên đã tăng hơn 40% trong thập kỷ qua (Đại học Quốc gia Hà Nội, 2020).

Sinh viên ở Việt Nam khi bước vào ngưỡng cửa trường đại học vừa phải trải qua một giai đoạn căng thẳng tâm lý thi cử, chọn ngành, chọn trường để đỗ; áp lực đỗ đạt với bố mẹ, gia đình, với bạn bè cùng trang lứa; cùng những áp lực của cuộc sống sinh viên có thể xa nhà, phải tự lập, phải học theo phương pháp học mới, nội dung kiến thức đồ sộ. Tiếp đến là những áp lực của việc học có kết quả cao và định hướng nghề nghiệp, sự cạnh tranh trong tìm kiếm việc làm khi ra trường đối với sinh viên năm ba hay năm cuối. Nguy cơ rối loạn tâm lý và xuất hiện các vấn đề về SKTT là rất cao. Để hạn chế những hậu quả nghiêm trọng này, các trường đại học ngay khi đón các sinh viên vào trường cũng như đối với các sinh viên trong quá trình học tập (18-24 tuổi) cần có biện pháp nhận biết nhu cầu hỗ trợ tâm lý và SKTT cho sinh viên, để từ đó đề ra các giải pháp hỗ trợ khi sinh viên gặp các vấn đề khó khăn về tâm lý và SKTT (Quỳnh Chi và cộng sự, 2018).
Trong nhóm sinh viên đại học, sinh viên khối ngành kinh tế chiếm một tỷ trọng đáng kể; đồng thời, xu hướng học sinh lựa chọn học khối ngành kinh tế và quản lý đang ngày một gia tăng. Số liệu thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) cho thấy, khối ngành kinh doanh và quản lý chiếm tỷ lệ đăng ký nguyện vọng cao nhất trong ba kỳ tuyển sinh liên tiếp: năm 2022 (32,77%), năm 2023 (24,54%) và năm 2024 (27,42%) (Bộ GDĐT, 2024). Trên thực tế, mỗi năm có tổng cộng gần 400 ngành đào tạo, chia thành 24 lĩnh vực tuyển sinh. Trong đó có những lĩnh vực có rất nhiều ngành và nhu cầu thực tế rất lớn nên việc so sánh con số tuyệt đối hay cơ cấu giữa các lĩnh vực đôi khi có những đánh giá chưa hoàn toàn đúng. Tuy nhiên, con số này cũng thể hiện được một mặt về tỷ trọng ngành được các thí sinh quan tâm.

Bình luận

0/1500

Cùng chủ đề

Cùng chủ đề

Xem toàn bộ

Tuyển tập hay nhất

Tuyển tập hay nhất